Ngày đăng: 2026-03-10
Đau đầu là triệu chứng thường gặp trong rất nhiều loại bệnh nhưng lại là triệu chứng không đặc hiệu. Việc đi kèm các triệu chứng khác cũng như các bằng chứng khoa học của các xét nghiệm cho thấy cần một phương pháp luận lâm sàng đúng đắn để không bỏ sót một nguyên nhân nào của đau đầu
I. Đại cương
Đau đầu là triệu chứng thường gặp trong rất nhiều loại bệnh nhưng lại là triệu chứng không đặc hiệu. Việc đi kèm các triệu chứng khác cũng như các bằng chứng khoa học của các xét nghiệm cho thấy cần một phương pháp luận lâm sàng đúng đắn để không bỏ sót một nguyên nhân nào của đau đầu. Phương pháp châm cứu điều trị hội chứng đau đầu bằng cách kích thích các huyệt đạo để điều hòa năng lượng, khôi phục dòng khí trong kinh lạc, thúc đẩy cơ thể tiết hormone giảm đau endorphin và cải thiện tuần hoàn, giảm căng thẳng. Phương pháp này an toàn, ít tác dụng phụ hơn thuốc, có thể phòng ngừa, giảm tần suất đau đầu, đặc biệt hiệu quả với đau đầu do căng thẳng mãn tính và đau nửa đầu từng cơn.

II. Theo y học hiện đại
Chẩn đoán đau đầu dựa vào việc phân tích chi tiết triệu chứng (vị trí, tính chất, cường độ, yếu tố tăng/giảm đau), tiền sử bệnh và khám lâm sàng, kết hợp các xét nghiệm (CT, MRI) nếu có dấu hiệu cảnh báo. Cần phân biệt các loại đau đầu chính như đau đầu do căng thẳng (âm ỉ hai bên), migraine (đau giật theo mạch, buồn nôn, sợ ánh sáng/âm thanh), và đau đầu cụm (đau quanh mắt, bồn chồn), nhằm loại trừ nguyên nhân thứ phát nguy hiểm (u não, xuất huyết).
1. Chẩn đoán dựa trên triệu chứng (Khám lâm sàng)
2. Các dấu hiệu cảnh báo cần đi khám khẩn cấp
3. Các phương pháp chẩn đoán hỗ trợ:
- Xét nghiệm máu: Hồng cầu, bạch cầu, máu lắng, sinh hóa máu
Ngoài ra cần cân nhắc các xét nghiệm đặc hiệu nếu có các triệu chứng nghi ngờ cần loại trừ

4. Phân loại đau đầu
Phân loại để điều trị theo Phân loại quốc tế Đau đầu II (ICHD-II-2024)
III. Theo y học cổ truyền.
50% các đau đầu do bệnh tâm căn suy nhược – Suy nhược thần kinh có thể điều trị bằng châm cứu rất hiệu quả.
+ Đau đầu ngoại cảm: Cơ thể cảm phải lục dâm như phong tà, hàn tà, thử tà, thấp tà,.. Do giữ gìn không cẩn thận, do điều kiện làm việc không tốt, ăn ở không vệ sinh…. Ví dụ:
Đau đầu do phong tà do nằm trước gió, đau đầu do hàn tà do nhiễm phải sương lạnh, sinh hoạt làm việc trong môi trường điều hòa lâu, đau đầu do thử bệnh do làm việc dưới trời nắng, đau đầu do thấp tà do làm việc nơi ẩm thấp, làm việc ngâm mình dưới nước lâu .
Ngoài ra sách cổ còn nói tới một số bệnh đau đầu do cảm phải một số khí lạ, truyền từ người này qua người khác, có tính chất truyền nhiễm tạo thành vùng dịch gọi là đau đầu do dịch lệ (bệnh dịch).
+ Đau đầu do nội thương:
Do nguyên khí suy kém, huyết phận không đầy đủ, hoặc do đàm thấp ứ đọng, do thức ăn ứ trệ ở trung tiêu (Tỳ, Vị), hoặc do thất tình ( buồn, giận, lo , nghĩ, vui mừng, sợ hãi, uất quá..) Hỏa khí uất lại không lưu thông ở Can - Đởm gây ra đau đầu.
Có một phương pháp chẩn đoán trên lâm sàng rất hay áp dụng là “Kinh lạc chẩn” hay còn gọi là “thần kinh thủ huyệt” nghĩa là xem vị trí đau ở đâu mà biết được nguyên nhân gây bệnh. Nguyên lý của phương pháp này dựa vào “ Học thuyết Kinh lạc ’’. Vùng đầu là nơi dương khí của các kinh hội tụ lại, đi qua vùng đầu có các đường kinh Vị, Đại trường, Tam tiêu, Bàng quang, Đởm, Tiểu trường. Dựa vào vị trí đau thuộc đường kinh nào, ta có thể xác định được nguyên nhân gây bệnh từ đâu, tạng phủ nào đang bị bệnh. Phương pháp này được áp dụng khá phổ biến trên lâm sàng và mang lại hiệu quả điều trị nhanh.
+) Đau đầu do ngoại cảm.
- Do phong tà: Đau đầu có tính chất cấp tính, đột ngột đau dữ dội, đau theo cơn có lúc dịu đi, kèm theo choáng váng, hoa mắt, có thể có sốt, sợ gió. Mạch phù huyền, hữu lực. Mạch Phù sác (Phong nhiệt); Phù khẩn (Phong hàn).
- Do nhiệt tà (còn gọi là thử bệnh): Đau đầu đau dữ dội, liên tục. Mặt đỏ, mắt đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, khô, hơi thở hôi. Cảm giác nóng bức, sốt ra nhiều mồ hôi, miệng khát, thích uống nước lạnh và chườm lạnh, tiểu tiện bí kết (nước tiểu ít, màu đỏ), táo bón, mạch hồng sác.
- Do thấp tà: Đau nhức nặng, liên tục, trời ẩm thấp (nồm) đau tăng lên, toàn thân nặng nề, đầy bụng, ăn chậm tiêu, có thể có rối loạn tiêu hóa. Mạch phù hoạt hoặc hoãn tế.
- Do hàn tà: Đau đầu có tính chất cấp tính sau nhiễm lạnh, đau dữ dội, buốt như xuyên xuống răng, nhức buốt, chân tay lạnh, sợ lạnh, thích uống nước ấm, ủ ấm. Mới bị thì mạch phù, khẩn, lâu hơn thì mạch trầm trì.
+) Đau đầu do nội thương.
- Do khí hư: Hơi thở ngắn, yếu, đau đầu nhiều về buổi sáng, về chiều nhẹ hơn, đau tăng khi phải tập trung suy nghĩ, khi lao động nặng, có lúc đầu như trống không, mệt mỏi, chân tay không buồn nhấc lên. Ăn uống kém, mạch phù đoản hoặc trầm nhược .
- Do huyết hư: Sắc mặt vàng nhợt, môi miệng xanh bạc. Đau đầu không dữ dội chỉ đau lâm râm cả ngày ở thái dương và đuôi lông mày, thỉnh thoảng đau chói như xuyên qua đầu, về trưa đau tăng lên. Tinh thần bị rối loạn, hay sợ sệt, cơ thể suy nhược ăn uống kém. Mạch trầm, tế sác, vô lực.
- Do đàm thấp đình trệ ở trung tiêu: Gò má đỏ, ít nói, dáng chậm chạp, béo bệu( khí trệ). Đau đầu nhức nặng, choáng váng, mình mẩy nặng nề, nôn nao, buồn nôn, tức ngực, đầy bụng, ho khạc nhiều đờm. Mạch trầm hoạt.
- Do huyễn vựng: Bốc hỏa, mặt đỏ, đầu đau nhức nặng, choáng váng mắt tối sầm, khi bị kích thích (bị xúc phạm) thì phát cơn đau dữ dội đau tức lan sang hai mạn sườn. Kèm theo đau lưng, mỏi gối, có thể di mộng tinh (nam trẻ tuổi), khí hư bạch đới (nữ). Mạch: Huyền nhược (chứng hư); Hoạt sác (chứng thực).
+) Đau đầu do bệnh dịch
Y văn cổ có ghi chép về chứng đau đầu này. Triệu chứng ngoài đau đầu có thể kèm theo sốt, phát ban, đi ngoài,… bệnh có tính chất lây truyền, dễ tạo thành dịch, thường gặp khi thời tiết giao mùa nên có y văn còn quy vào chứng ôn bệnh.
Pháp điều trị: Tùy nguyên nhân mà có thể dùng các pháp sau: Khu phong, tán hàn, thanh nhiệt tả hỏa, trừ đàm, hóa thấp, bổ dưỡng khí huyết, thông kinh hoạt lạc.
3.1. Do ngoại cảm:
- Do phong tà: Châm tả Bách hội, Thượng tinh, Thái dương, Phong trì, Phong phủ, Hợp cốc, Ngoại quan, Liệt khuyết.

- Do nhiệt (Hỏa) tà: Chích huyết ở Thái dương, Đầu duy, Ủy trung, Hợp cốc, sau châm tả Hành gian, Khúc trì.
- Do thấp tà: Châm tả Bách hội, Thượng tinh, Thái dương, Khúc trì, kết hợp với bổ: Tỳ du, Trung quản, Nội đình, Túc tam lý, Phong long.
- Do hàn tà: Ôn châm hoặc cứu: Bách hội, Thượng tinh, Thái dương, Phong trì, Phong phủ, Hợp cốc, Ngoại quan. Nếu có các triệu chứng kèm theo khác như: Ngạt mũi, chảy nước mũi thì châm Quyền liêu, Nghinh hương. Ho thì châm Thiên đột, Khí xá, Phế du, Liệt khuyết. Đau bụng, sợ lạnh thì cứu Tỳ du ,Vị du, Quan nguyên, Khí hải…
- Do Đàm: Châm tả Bách hội, Toản trúc, Phong long, Liệt khuyết, hoặc Nội quan, Phong trì, Ngoại quan, Trung quản.
3.2. Do nội thương
- Do Huyết hư: Châm tả Bách hội, Đầu duy, Khúc trì, Hợp cốc, Can du. Đồng thời châm bổ: Huyết hải, Cách du, Thái xung, Tam âm giao, Túc tam lý.
- Do Khí hư: Ôn châm hoặc cứu Bách hội, Trung quản, Quan nguyên, Khí hải, Thái khê, Tam âm giao, Túc tam lý.
- Do suy giảm chức năng của Tỳ, Phế, Thận gây đàm thấp trở trệ: Châm tả Bách hội, Phong long, Liệt khuyết, Nội quan, Phong trì, Ngoại quan. Bổ Tỳ du, Vị du, Thận du, Quan nguyên, Khí hải, Thái bạch, Tam âm giao, Túc tam lý.
- Do huyễn vựng, chứng hư: Cứu Bách hội, Túc tam lý, Thái dương và châm bổ: Thận du, Quan nguyên
+ Nếu huyết áp thấp thì châm bổ: Nhân nghinh, Hợp cốc. Chứng thực thì châm tả: Phong trì, Hợp cốc, Phong long, Thượng tinh và thịch huyết Thái dương.
+ Nếu huyết áp cao thì châm tả Khúc trì, Túc tam lý, Thái xung, Thái dương.
+ Nếu âm hư, can mạnh thì châm tả: Can du, Hành gian, Phong trì. Do đàm hỏa quấy rối thì châm tả: Giải khê, Phong long, Nội quan, Trung quản.
Liệu trình ngày 1 lần, mỗi lần từ 15 – 20 phút, có thể điện châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt, thủy châm vitamin nhóm B, các thuốc tăng tuần hoàn não hoặc bổ não như Cerebrolysin… Khi thủy châm nên chọn các huyệt ở vùng nhiều cơ và test trước thủy châm.

Với bệnh nhân đau đầu cần phải khám kỹ để tìm nguyên nhân và loại trừ các tổn thương thực thể, chẩn đoán xác định, kịp thời xử trí tránh những sai sót và tai biến trong điều trị bệnh; động viên giúp đỡ người bệnh để bệnh nhân thoải mái tinh thần và an tâm điều trị. Trong quá trình điều trị có thể kết hợp các phương pháp điều trị Y Học hiện đại khác như điều trị bằng Oxy Cao áp, Từ trường xuyên sọ,.. để tăng them hiệu quả điều trị
( BS Ninh Công Minh - Khoa Châm Cứu - Bệnh Viện Y học cổ truyền Quảng Ninh
Tin liên quan
